Giới thiệu tổng quan tiếng Phạn - Sanskrit

Thứ ba - 28/06/2016 09:23
Giới thiệu tổng quan tiếng Phạn - Sanskrit

Giới thiệu tổng quan tiếng Phạn - Sanskrit

Tiếng Phạn - Sanskrit - Ngôn ngữ gắn liền với các tạng kinh và vô cùng bí ẩn cho những độc giả muốn khám phá lĩnh vực tâm linh.



Tiếng Phạn
(zh. Phạm/Phạn ngữ 梵語; sa. saṃskṛtā vāk संस्कृता वाक्, hoặc ngắn hơn là saṃskṛtam संस्कृतम्) là một cổ ngữ của Ấn Độ còn gọi là bắc Phạn để phân biệt với tiếng Pali là nam Phạn và là một ngôn ngữ tế lễ của các tôn giáo như Ấn Độ giáo, Phật giáo Bắc Tông và Jaina giáo.



Nó có một vị trí quan trọng trong văn hóa Ấn Độ và các văn hóa vùng Đông Nam Á tương tự như vị trí của tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp trong châu Âu Trung Cổ; nó cũng là kết cấu trọng điểm của truyền thống Ấn giáo/Phệ-đà, nhưng ở một mức độ cao cấp hơn. Ngày nay nó là một trong nhiều ngôn ngữ chính thức của Ấn Độ, mặc dù tiếng Hindi (hindīहिन्दी) và các thứ tiếng địa phương khác ngày càng được dùng phổ biến.

Khác với quan niệm phổ biến, tiếng Phạn không phải là một ngôn ngữ chết. Nó vẫn còn được dạy trong các trường học và tại gia khắp nước Ấn, tuy chỉ là ngôn ngữ thứ hai. Một số người Bà-la-môn vẫn xem tiếng Phạn là tiếng mẹ đẻ. Theo một thông tin gần đây, tiếng Phạn được phục hưng như một tiếng địa phương thực dụng tại làng Mattur gần Shimoga, Karnaataka.

Tiếng Phạn phần lớn được dùng như một ngôn ngữ tế tự trong các nghi lễ của Ấn Độ giáo dưới dạng ca tụng và chân ngôn (sa.mantra). Tiền thân của Hoa văn Phạn ngữ (zh. 華文梵語, en. classical sanskrit) là tiếng Phệ-đà (zh. 吠陀, en. vedic sanskrit), một ngôn ngữ được xem là một trong những thành viên cổ nhất của hệ ngôn ngữ Ấn-Âu, và văn bản cổ nhất của nó là Lê-câu-phệ-đà(zh. 棃俱吠陀, sa. ṛgveda). Bài này nhấn mạnh vào Hoa văn Phạn ngữ như nó được hệ thống hoá bởi Ba-ni-ni (zh. 巴尼尼, sa.pāṇini) vào khoảng 500 trước CN. Hầu hết những bài văn tiếng Phạn được truyền miệng qua nhiều thế kỉ trước khi được ghi lại tại Ấn Độ trong thời kì trung cổ.
 
Bảng chữ cái và cách kí âm Latinh
 
Chữ Brahmī trên cột trụ của vua A-dục
Bảng chữ cái tiếng Phạn bao gồm 13 mẫu âm, 33 phụ âm và 2 âm bổ sung. Cho 46 + 2 âm này thì hệ thống chữ viếtDevanāgarī dành cho mỗi chữ một kí tự riêng biệt. Vì có nhiều âm và kí tự hơn bảng chữ cái Latinh nên khi phiên âm chuẩn mực, người ta cần có một loạt dấu đặc biệt—người Âu châu gọi là diacritics, Hán gọi là Khu biệt phát âm phù hiệu (zh. 區別發音符號)—hoặc phối hợp các kí tự khác nhau để ghi cách phát âm. Qua việc bổ sung năm phát âm phù hiệu

1.            Dấu sắc cho âm hàm trên cọ xát răng (thượng ngạc xỉ sát âm 上顎齒擦音, palatal sibilant) như trường hợp ś
2.            Dấu ngã cho giọng mũi lưỡi đụng hàm trên (thượng ngạc tị thanh 上顎鼻聲, palatal nasal), trong trường hợp ñ
và phối hợp một phụ âm +h cho những âm có hơi đưa ra (tống khí 送氣, aspiration), như trường hợp kh, người ta có thể trình bày tất cả những âm tiếng Phạn bằng các kí tự Latinh.
 
Nguyên âm đơn        

Devanāgarī IAST HK Cách phát âm
Đứng riêng hoặc đầu chữ Dấu nguyên âm trong chữ Tiếng Việt—Anh IPA
  a a phát âm a ngắn, nghiêng chút về âm ơ—gut ʌ
ā A phát âm dài gấp đôi a—father
ि i i phát âm i ngắn—pin i
ī I phát âm dài gấp đôi i—tweak
u u phát âm u ngắn—push u
ū U phát âm dài gấp đôi u—moo
R phát âm như ri, nhưng chỉ đọc phớt chữ i—một số phương ngữ Mỹ đọc như bird
RR như ṛ, nhưng dài gấp đôi—y trang, nhưng dài hơn và bị rung r̩ː
L đọc như li, nhưng chỉ đọc phớt chữ i—pickle
 
Nguyên âm mang tính chất phụ âm
ṛ, ṝ, and ḷ được xem là nguyên âm, nhưng cũng mang tính chất phụ âm (do đó thường được biết như consonantal vowel). Một vài nhà văn phạm truyền thống nhắc đến chữ ḹ ॡ, dạng dài của ḷ, nhưng chữ này không được tìm thấy trong các văn bản thật sự, chỉ có ở một vài tác phẩm văn phạm đặc thù, có lẽ được đưa ra chỉ để tạo tính tương đồng với những nguyên âm khác.
 
Phức hợp âm
Tất cả các phức hợp âm (diphthongs) đều được phát âm dài.

Devanāgarī Chuyển tự Cách phát âm
Đứng riêng hoặc đầu chữ Dấu nguyên âm trong chữ Tiếng Việt—Anh IPA
e phát âm như ê—hay
ai phát âm như ai—bite aːj
o phát âm như ô—snow
au phát âm như au—pow aːw
Nguyên âm có thể được tăng thêm âm mũi (tị âm hoá, nasalized).

Phụ âm

  Âm môi (labial) Âm môi răng (labiodental) Âm răng (dental) Âm uốn lưỡi (retroflex) Âm vòm (palatal) Âm vòm miệng mềm (velar) Âm cổ họng (pharyngeal)
Tử âm (stop) Không có tống khí (unaspirated) p प b ब   t त d द ṭ (T) ट ḍ (D) ड c (ch) च j ज k क g ग  
Có tống khí (aspirated) ph फ bh भ   th थ dh ध ṭh (Th) ठ ḍh (Dh) ढ ch (chh)छ jhझ kh ख gh घ  
Âm mũi (nasal) m म   n न ṇ (N) ण ñ (J) ञ ṅ (G) ङ  
Bán nguyên âm (semivowel)   v व     y य    
Âm lưu chuyển (liquid)     l ल r र      
Âm ma sát (fricative)     s स ṣ (S) ष ś (z) श   ḥ (H) ः h ह




















Tuỳ âm ं  biến đổi theo nguyên âm đi trước, tăng thành phần giọng mũi của nguyên âm. Ví dụ: sasāra đọc như sang|sārasahitā đọc như sang|hitā. Tuỳ âm tăng phần âm mũi của nguyên âm trước những phụ âm y, r, l, v, ś, ṣ, s.
 
 
Nhấn giọng (pitch) 
Trong tiếng Phạn, đặc biệt là tiếng Phạn Phệ-đà, các âm tiết được nhấn mạnh bằng một dấu thanh âm điệu, có nghĩa là âm tiết được nhấn mạnh có một thanh điệu khác. Các nhà văn phạm Ấn Độ truyền thống định nghĩa ba thanh: udātta "cao thanh", anudātta "không cao thanh" và svarita "có âm điệu". Thông thường, khi kí âm người ta dùng dấuacute ॔ để trình bày âm cao udātta, và dùng dấu grave ॓ cho an-udātta. Thanh điệu svarita chỉ xuất hiện như kết quả của sự phối hợp giữa các nguyên âm theo quy tắc tạo âm điệu nghe êm tai (euphony) và vì thế, nó ít xuất hiện.

Hợp biến (sandhi)
1.   Nếu hai chữ trực tiếp đi theo nhau thì ta thường thấy sự biến đổi trong âm kết thúc của chữ đầu và khởi âm của chữ thứ hai vì nguyên do giản hoá và êm tai (euphony)
abcd efgh → abcx efgh, hoặc abcd yfgh, hoặc abcx yfgh

Trong văn cảnh nhất định, hai chữ đã biến đổi thường được viết chung và như vậy, việc phân biệt và nhận ra một chuỗi chữ đã biến đổi, thậm chí chưa quen không phải là dễ. Ví dụ như nhận chữ:

abcxyfgxzjkl
là chuỗi chữ
abcd efgh ijkl

2.   Sự biến đổi âm cũng có thể xảy ra trong một chữ, ví dụ như trường hợp âm kết thúc của thân và âm đầu của phần đuôi (suffix) gặp nhau, với kết quả là âm kết thúc của thân và khởi âm của phần đuôi biến đổi. Sự biến đổi về âm này được ngữ pháp Phạn ngữ truyền thống gọi là sandhi, dịch sát nghĩa là "kết hợp", "liên hợp". Vì âm đọc biến đổi nên từ "hợp biến" (合變) cũng trình bày rất chính xác sự việc.

Người ta phân biệt hai loại hợp biến, hợp biến trong câu (ngoại hợp biến 外合變) và hợp biến ngay trong một chữ (nội hợp biến 內合變). Tóm tắt hết các luật hợp biến thì có khoảng 25 luật. Sau đây là một vài ví dụ cho những quy luật âm vận cực kì phức tạp này:

1.   rāmaḥ atra tiṣṭhati → rāmo ’tra tiṣṭhati
2.   tatra + udyānaṃ kṛṣati → tatrodyānaṃ kṛṣati
3.   gṛhe + ācāryaḥ + tiṣṭhati → gṛha ācāryastiṣṭhati
 
 

Tác giả bài viết: Tony

Nguồn tin: Tổng hợp

Tổng số điểm của bài viết là: 15 trong 3 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Ngôn Ngữ Các Nước Đông Nam Á





     
 
 HỌC NGOẠI NGỮ TRỰC TUYẾN

hoc vien dk 25



 

Chuyên mục vui và ngộ nghĩnh

Chuyên mục đẹp và duyên

Chuyên mục hay và ý nghĩa

Chuyên mục học đánh Guitar

Chuyên mục du lịch

Chuyên mục sức khỏe

Chuyên mục hoa và cây cảnh

Đang truy cậpĐang truy cập : 23

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 22


Hôm nayHôm nay : 63

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 33579

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1492385